PLAYING THE TRUMPET. EVERY FRIDAY @ JAZZPLACE

Cây đàn piano đầu tiên trên thế giới

Đàn piano là một trong những loại nhạc cụ không còn xa lạ trong cuộc sống của chúng ta. Những âm thanh mượt mà, nhẹ nhàng của piano đã làm say đắm biết bao con người. Có những người chọn piano là đam mê cả đời và trở nên nổi tiếng nhờ piano. Bài viết này, chúng tôi muốn bạn biết được cây đàn piano đầu tiên trên thế giới và người đầu tiên làm ra nó để hiểu hơn về nhạc cụ này.

Khác với các thiết bị phát ra âm thanh khác như đầu karaoke giống như ở đây , loa karaoke, amply karaoke… cần phải đứng chung với nhau trong một dàn âm thanh karaoke thì mới có thể đem đến những âm thanh tốt nhất, chất lượng cao nhất, khiến người nghe hài lòng nhất. Đàn piano không nhất thiết phải đứng chung với các thiết bị hay nhạc cụ khác. Tự nó có thể tạo ra, xử lý âm thanh sao cho người nghe hài lòng nhất. Còn khi đứng chung cùng với những nhạc cụ khác, piano hoàn toàn có thể hòa chung cũng như làm nổi bật mình để tạo ra phong cách riêng.

Ai là người tạo ra cây đàn piano đầu tiên?

Người mà chúng tôi muốn nhắc đến ở đây chính là Bartolomeo Cristofori. Sinh ngày 04, tháng 5 năm 1655 tại Padua, miền bắc nước Ý. Đàn piano không phải là cây đàn đầu tiên của ông, vì Cristofori làm đàn harpsichords và đàn clavico. Ông làm việc cho Hoàng tử Ferdinando de Medici, con trai của công tước Tuscany.

Vào những năm 1690, ông mới này ra và thực hiện ý tưởng chế tác ra những bộ phận của đàn piano. Đến năm 1709, cây đàn piano đầu tiên đã ra đời với tên gọi piano acoustic.

Cristofori nhận thấy rằng không thể gảy dây đàn harpsichord để có những nốt trầm bổng khác nhau được. Chính vì vậy ông đã nghĩ ra một cơ chế chuyển giao các áp lực từ các phím, qua búa đến dây đàn để tạo các âm thanh mạnh nhẹ khác nhau khi chạm vào các phím. Ông gọi phát minh của mình là một “gravecembalo col piano e forte” – một clavichord với các phím lớn nhỏ khác nhau. Cái tên được rút ngắn xuống còn pianoforte và sau đó chỉ đơn giản là piano.

Tuy nhiên, sự ra đời của cây đàn piano đầu tiên không hề suôn sẻ. Bởi vì nó không được phổ biến và nhiều người cảm thấy nó quá khó để chơi. Trong khi Critofori đã mất và hầu như không được vinh danh gì. Cho đến tận những năm 1731, sau khi bản nhạc đầu tiên dành cho piano xuất hiện thì cây đàn của ông mới thực sự có chỗ đứng trong làng âm nhạc thế giới.

Cây đàn piano đầu tiên trên thế giới

Quá trình phát triển của cây piano đầu tiên

Sau khi ra đời và dần được công nhận, đàn piano phát triển theo hai hướng cơ bản. Ở Anh, đàn piano được thiết kế nặng hơn và phức tạp hơn và giống với những cây đàn ngày nay hơn. Còn ở Đức lại hình thành một dòng piano nhẹ hơn, cấu trúc đơn giản hơn và được biết đến như một cây đàn xứ Vienna. Cây đàn này được nhà sản xuất Johann Andreas Stein xây dựng, đó chính là những cây đàn mà Haydn, Mozartvà Beethoven đã chơi và soạn nhạc trên đó.

Khi chỗ đứng ngày càng được khẳng định, piano dần trở thành một nhạc cụ độc lập và cần làm cho âm thanh to hơn. Chính vì vậy, để tăng âm, các dây phải dày hơn, bộ khung phải khỏe hơn thì mới có thế đạt được một áp lực lớn hơn. Đây là nguyên nhân khiến bộ khung của đàn piano được làm dày hơn, nặng hơn và có thêm một thanh chằng chéo giúp kiên cố hơn.

Đến năm 1820, Thomas Allen thậm chí vẫn còn dùng các ống kim loại để giữ căng các dây, và một nhà sản xuất thành công người Anh là John Broadwood bắt đầu dùng các tấm bằng sắt để giữ cho chúng được căng lên, mà giờ đây các đĩa đó phần lớn được làm bằng kim loại hơn là bằng gỗ. Năm 1825 Alpheus Babcock sáng chế ra khung bằng gang và sau đó năm 1843, một người Mỹ là Jonas Chickering bắt đầu làm piano với một đĩa tròn vành, một nét đặc trưng của các piano cánh ngày nay. Một sự phát triển đáng chú ý khác là việc chằng các dây, được phát triển bởi Henri Pape năm 1828 và Steinway cấp bằng sáng chế năm 1859, ông đã đặt các dây bass dài hơn lên cao hơn các dây kim, giúp cho các dây dài hơn ở trong hộp ngắn hơn và đặt các dây bass ở giữa qua một bảng cộng hưởng (soundboard) để có một sự hồi âm tốt hơn.

Piano được bắt đầu sản xuất hàng loạt vào những năm 1800, cùng với sự thành lập của các công ty như: John Broadwood & Sons, Jonas Chickering, Julius Blũthner, Ignaz Bosendorfer, Friedrich Bechstein, Henry Steinway và Sebastien Erard, những công ty này hoàn toàn phát triển từ nền tảng của mẫu đàn cánh đó tới năm 1821.

Cho dù con đường phát triển không được thuận lợi nhưng cuối cùng, piano cũng đến được với cuộc sống của con người và trở nên gần gũi hơn bao giờ hết. Bạn có biết rằng những bản nhạc mà bạn dùng để hát karaoke có sự góp phần không nhỏ của đàn piano không? Nếu không có cây đàn này, chắc chắn cả tôi và bạn không thể nào có được những giây phút thực sự thư giãn, thoải mái khi hát karaoke tại dàn karaoke gia đình mình được. Không những thế, cho dù có các thiết bị âm thanh cao cấp,hiện đại đến đâu thì cũng không thể mang đến chất lượng âm thanh tuyệt nhất được.

4 nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất thế giới

Chắc chắn ai trong chúng ta cũng có đôi lần mê đắm trong những giai điệu piano nhẹ nhàng, du dương hay những bản nhạc đầy chất triết lý. Và để tạo ra những bản nhạc có thể lôi cuốn được nhiều thính giả đến như vậy, nhà soạn nhạc phải thực sự là những người có tài. Bài viết này, chúng tôi sẽ chia sẻ đến bạn 4 nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất thế giới. Đây cũng là những cái tên mà khi nhắc đến bất kì ai cũng thán phục.

Những nhà soạn nhạc thiên tài để lại cho nhân loại nhiều bản nhạc có giá trị lớn. Chính vì vậy mà những bản nhạc này có thể tồn tại cùng thời gian cũng như chiếm được cảm tình của rất nhiều thế hệ người nghe. Hơn thế, đây còn là nguồn cảm hứng cho rất nhiều nhà soạn nhạc và nhạc sĩ sau này.

Franz Schubert

Franz Schubert (1797 – 1828) là một nhà soạn nhạc vĩ đại người Áo. Người ta biết đến ông là một thiên tài âm nhạc, là một bậc thầy về kết cấu của giai điệu và ca từ. Sở trường của ông là có thể hoàn thành một tác phẩm một cách nhanh chóng. Chính vì vậy trong suốt 16 năm sáng tác của mình, ông đã để lại cho nhân loại khoảng 650 tác phẩm.

Trong số đó, bản nhạc nổi tiếng nhất là Piano Quintet (Ngũ tấu Piano). Ngoài ra, ông cũng sáng tác các bản mass (nhạc cho lễ Misa), 9 bản giao hưởng, các bản sonata, ballet, tứ tấu đàn dây và các vở opera.

Richard Wagner

Richard Wagner (1813 – 1883) là nhà soạn vĩ đại thứ hai được nhắc tới trong bài viết này. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông đã để lại cho nhân loại những bản nhạc có giá trị lớn như Tannhauser, Lohengrin, Die Meistersinger von Nurnberg, Parsifal… và đặc biệt là album Der Ring des Nibelungen gồm bốn vở nhạc kịch. Đây cũng là bốn vở nhạc kịch nổi tiếng nhất trong lịch sử opera. Trong top 10 vở opera dài nhất thì đã có đến 7 tác phẩm là của Wagner với thời lượng trung bình của mỗi vở là 3 giờ.

Không những thế, ông chính là người đã sáng tạo ra leitmotif – một giai điệu rất ngắn phù hợp với từng nhân vật, xúc cảm và phân cảnh trong tác phẩm. Wagner đã cách mạng hóa nghệ thuật opera.

Ông chính là người đặt nền móng cho nghệ thuật làm phim của thế giới. Và tất cả các nhà viết nhạc phim, kể cả John Williams cũng đồng ý rằng Richard Wagner là viết nhà viết nhạc phim vĩ đại nhất trong lịch sử.

Ludwig van Beethoven

Ludwig van Beethoven (1770 – 1827) được biết tới là một nhà soạn nhạc cổ điển thiên tài người Đức. Ông cũng chính là người mở đường cho giai đoạn âm nhạc lãng mạn. Với Ludwig van Beethoven, Mozart và Haydn là những người có ảnh hưởng lớn đến sáng tác của ông. Minh chứng là bản giao hưởng số 3 Eroica (Anh hùng ca) và hai bản Concerto cho dương cầm số 4 và số 5 của Beethoven, thế giới đã chính thức thức bước vào kỷ nguyên của âm nhạc lãng mạn.

Beethoven viết được những tác phẩm bất hủ để đời xuất phát từ chính những đau thương, bất hạnh trong cuộc đời ông. Những tác phẩm kinh điển của ông bao gồm 9 bản giao hưởng, 5 bản concerto cho dương cầm, bản concerto cho vĩ cầm, 2 bản mass (trong đó có bản Missa Solemnis), 32 bản sonata cho dương cầm solo, 16 bản bản tứ tấu đàn dây… đều gắn với một giai đoạn cuộc đời của nhà soạn nhạc.

Beethoven là nhà soạn nhạc nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng đến hầu hết các nhà soạn nhạc sau này trên thế giới.

Wolfgang Amadeus Mozart

Wolfgang Amadeus Mozart (1756 – 1791) là nhà soạn nhạc nổi tiếng của Áo và thế giới. Số lượng những tác phẩm mà Mozart để lại là một con số khổng lồ gồm có hơn 600 tác phẩm, trong đó phải kể đến 41 bản giao hưởng, 27 bản concerto cho đàn dương cầm, 23 vở opera, 18 bản sonata cho đàn dương cầm, 36 bản sonata cho đàn vĩ cầm, các bản sonata nhà thờ, 18 bản mass, 20 bản tứ tấu đàn dây và nhiều tác phẩm khác nữa.

Giá trị từ những tác phẩm của Mozart thì không phải bàn cãi. Từ bản đầu tiên cho đến bản nhạc cuối cùng đều không cần phải chỉnh sửa dù là ở thể loại nào. Tất cả đều đạt sự hài hòa và cân bằng đến tuyệt đối giữa thể loại dành cho nhạc cụ solo và thể loại dành cho dàn nhạc.

Bạn có thích bản nhạc nào do những nhà soạn nhạc thiên tài này sáng tác không? Hãy chia sẻ để chúng tôi cùng biết nhé!

>>> Xem thêm: Những lý do để học chơi piano

Những lý do để học chơi piano

Nếu bạn đang có ý định học piano nhưng vẫn còn phân vân thì bài viết này sẽ cho bạn đầy đủ lý do để đưa ra quyết định của mình.

Nhiều người vẫn nghĩ học piano giống như một môn năng khiếu nên khi học đều đặt rất nhiều niềm tin hay quyết tâm, nhất quyết phải học bằng được. Suy nghĩ này đúng nhưng đôi khi không nhất thiết phải như thế. Piano là một loại nhạc cụ và việc học nó có những khi chỉ là để giải trí. Những lúc căng thẳng, mệt mỏi có thể ngồi lại và đàn vài bản nhạc, tâm trạng chắc chắn sẽ tốt hơn nhiều.

Bạn có thể chỉ cần coi việc học piano giống như hát karaoke. Sắm một dàn âm thanh đầy đủ các thiết bị như đầu karaoke, loa karaoke, micro karaoke, vang số, cục đẩy công suất chỉ dùng vào việc hát hò giải trí ngay tại nhà. Vừa để thỏa mãn đam mê ca hát vừa có thời gian để kết nối các thành viên trong gia đình cũng như đem lại nhiều lợi ích cho sức khỏe. So với việc hát karaoke, thì âm nhạc từ cây đàn piano cũng đem lại nhiều lợi ích cho tinh thần và sức khỏe không hề kém cạnh chút nào. Dưới đây chính là những tác dụng không ngờ từ việc học chơi piano mà bạn có thể chưa biết.

Phát triển sự khéo léo

Chơi piano giúp bạn trở nên khéo léo hơn rất nhiều. Bạn đừng nghĩ việc bấm các phím đàn đơn giản. Nó thực sự là một nghệ thuật và phải là một nghệ sĩ với đầy nhiệt huyết mới có thể tạo nên một bản nhạc hoàn chỉnh chứa đựng nhiều cảm xúc.

Tạo niềm vui, giảm căng thẳng

Học chơi một nhạc cụ cũng giống như bạn học chơi một môn thể thao. Nó mang đến cho bạn rất nhiều niềm vui. Không những thế, âm nhạc có khả năng đặc biệt để mang lại niềm vui, nâng cao đời sống tinh thần và làm cho cuộc sống thú vị hơn.

Hơn thế, học chơi piano còn có thể mang lại cảm giác hài lòng thực sự. Điều mà không phải hình thức giải trí hay bộ môn thể thao nào cũng có thể mang lại cho bản thân mỗi người.

Các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng, việc chơi một loại nhạc cụ thường xuyên có tác dụng rât tốt trong việc giảm stress, điều hòa nhịp tim và huyết áp. Từ đó làm giảm đi sự căng thẳng, làm cho chúng ta cảm thấy thoải mái. Kéo gần khoảng cách giữa mọi người.

Việc chơi piano đem lại nhiều lợi ích hơn khi nó mang đến cho bạn cơ hội để được gặp gỡ nhiều người hơn. Với trẻ em, âm nhạc là một yếu tố giúp phát triển các kỹ năng xã hội. Có thể kể đến một số kỹ năng như cách liên lạc với người khác, cách làm việc nhóm, cách tôn trọng và đánh giá cao khả năng của nhau. Kèm theo đó là việc phát triển kỹ năng lãnh đạo và kỷ luật.

Cải thiện trí nhớ, thông minh hơn và sáng tạo hơn

Học piano không đơn thuần là việc chơi các bản nhạc đã được viết sẵn như một khuôn mẫu. Học chơi piano là học cách thể hiện các bản nhạc đó sao cho khác biệt, chứa đựng tình cảm cảm xúc của người sáng tác và của chính bản thân mình.

Khi cần phải suy nghĩ để thể hiện, não bộ được kích thích để hoạt động nhằm tạo ra sự sáng tạo. Ngoài ra, việc bạn chơi piano giỏi còn có tác dụng rất lớn đến việc học kiến thức cơ bản. Minh chứng là học âm nhạc giúp tăng cường đáng kể khả năng lý luận trừu tượng của trẻ em cũng như các kỹ năng cần thiết cho việc học toán và khoa học. Cho nên, những người được giáo dục âm nhạc thường thông minh hơn những người khác.

Đem lại rất nhiều tác dụng tốt cho trẻ

Không thể không kể đến tác dụng đặc biệt của việc học piano với trẻ em. Khi được học đàn, trẻ có xu hướng thành công trong bước đường học tập hơn những trẻ không học.

Kỹ năng về toán và ngôn ngữ ở trẻ được phát triển mạnh hơn bên cạnh các năng khiếu về nghệ thuật và âm nhạc. Ở một số nơi trên thế giới, rất nhiều trường học đã bắt đầu nhận thấy tác dụng của việc học piano nên tăng cường số lượng tiết học dành cho loại nhạc cụ này.

Việc học đàn piano giúp trẻ rèn luyện khả năng tập trung cũng như tính nghiêm túc khi nhìn nhận vấn đề.

Chơi piano cũng là hình thức để tạo cho trẻ sự phối hợp nhịp nhàng trên cơ thể. Tay lướt trên bàn phím và mắt tập trung quan sát để thao tác trên các nút chức năng của đàn. Sự phối hợp nhịp nhàng đó giúp trẻ linh hoạt, nhạy bén hơn khi tham gia các hoạt động khác trong cuộc sống.

Khi cho trẻ chơi piano hay các loại nhạc cụ khác, bạn sẽ có điều kiện để phát hiện ra tài năng bẩm sinh của trẻ. Để từ đó tạo điều kiện cho con phát triển đúng khả năng và sở trường.

Cuối cùng, tác dụng tốt của việc học piano với trẻ là rèn luyện tính kiên nhẫn. Bởi cũng giống như học bất cứ loại nhạc cụ nào khác, học piano là một quá trình liên tục, lâu dài. Ngoài việc học thuộc nốt thì còn cần phải tập trung cao độ. Cho nên, nó giúp cho trẻ hình thành và rèn luyện khả năng kiên nhẫn.

Bây giờ thì bạn đã biết lý do tại sao cần phải học piano rồi chứ? Còn ngần ngại gì mà không tìm hiểu và đăng kí khóa học phù hợp cho mình.

>>> Có thể bạn cần thêm thông tin: Gand piano – cây piano hiện đại đầu tiên